Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Trích tiểu thuyết của Ngố


Anh Bình tìm thấy tôi ở ngoài bến xe. Cả nhà đang cuống lên vì chiều hôm ấy không thấy tôi về. Bố tôi về tới nhà hay tin cũng vội vã đi tìm tôi. Ông bảo: “Nó là thằng có chí, nhưng khí khái.. Chỉ sợ nó nghĩ quẩn..”.
Chẳng ai hiểu tôi cả. Tôi đâu có dại làm việc ngu xuẩn trong lúc bồng bột như hồi nào? Sau đận ấy, tôi nghĩ con người ta có nhiều cách, miễn là có lòng kiên nhẫn, mãi cũng tới bến bờ.
Cuộc sống luôn có những con sông trước mặt. Nếu anh không đủ quyết tâm và thiếu lòng hăng hái, mãi mãi anh sẽ ở bờ bên này với nỗi buồn và thất vọng của mình.
Khó khăn không phải chỉ có một lần, như thể người ta qua con sông này lại gặp con sông khác đón chờ trước mặt. Anh vẫn phải đi tiếp, không thể dừng lại nếu không muốn đánh mất ước mơ của mình.
Tôi suy tính tiếp tục ở lại xưởng bánh mì không phải là cách hay. Lương ba cọc ba đồng chỉ đủ nuôi miệng mình, năm may được bộ quần áo. Mặc mãi cũng rách, chẳng là gì. Ngày qua tháng lại chả mấy chốc mà hết tuổi thanh xuân.
Tôi cần có tiền, thật nhiều tiền.
Như người ta nói “Có tiền, con khi cũng thành tiên”. Tôi sẽ theo người ta đi buôn gỗ, buôn bè.. rồi tôi sẽ thành ông chủ, thành doanh nhân như người ta hay gọi về sau này. Muốn thế tôi phải có vốn liếng ban đầu.“Đi câu sắm giỏ”. Nhưng tạo nó bằng cách nào?

Thằng Hón cùng học với tôi cũng có hoàn cảnh tương tự. Bạn bè cùng lớp nhiều đứa đã đi thoát ly, đi học cả rồi, chỉ còn mấy đứa không được đâu gọi là vẫn lơ vơ, ở nhà.
Mỗi đứa chọn một cách.
Có đứa rủ thêm bạn ra Quảng Ninh xin việc. Mỏ than ngoài đó đang cần tuyển thợ mỏ. Công việc tuy vất vả, có khi nguy hiểm vì an toàn của mỏ mới khai thác lại, chưa đảm bảo. Nhưng đổi lại lương khá cao.
Có đứa xin đi công nhân đường sắt. Ngày ngày vác tà vẹt, khiêng đá rải nền đường tàu. Suốt ngày phơi mặt ngoài trời mưa nắng,“trắng trẻo” như người Kênya..
Đúng là bách nhân bách nghệ, chả thiếu nghề nào!
Không phải tôi sợ vất vả, lầm than. Cái tôi sợ ở những nơi ấy sinh hoạt ô hợp, tập quán không hợp với mình. Đấy là những nơi nhiều thô lỗ, cuộc sống con người thiếu cái căn bản. Nơi hỗn quân, hỗn quan..
Đấy là tôi “tưởng tượng” ra thế..
Sau này gặp lại bạn cũ, tôi mới biết mình nhầm!
Hoặc cũng có thể trong câu chuyện bạn bè tôi “moniphe”, tô vẽ thêm ra viễn cảnh để tôi nhầm như thế?
Chừng nào còn những hạng người như bố con ông Tý Tỏm, ông Đoàn Nhiêu, chừng đó tôi biết mình khó mà mở mày mở mặt ra được! Bố mẹ tôi đã phải bỏ quê bỏ làng đi hàng trăm cây số lên đây mà chưa khỏi “khắc tinh” của họ. Họ là cái gì ám ảnh, tôi cứ đi tới đâu là y như rằng, cách nào đó lại có cái “bóng” trong số họ xuất hiện, lù lù trước mặt.
Tôi cần con đường khác, cách khác để lập thân, lập nghiệp. Bất luận như thế nào..
Thằng Hón bảo tôi nó có cách kiếm tiền nhanh, tôi đi theo nó. Vẫn biết đó là cách không được đàng hoàng cho lắm mà vẫn làm.
“Phe vé” xe ở bến xe không phải công việc công khai. Phải làm lén lút. Bất cứ lúc nào cũng có thể bị công an, quản lý bến dẫn vào đồn.
Nhưng chưa đến mức nghiêm trọng, nguy hiểm. Thường thì người ta làm biên bản, tịch thu vé, thu tiền rồi lại thả cho ra.
“Làm lâu ngày sẽ có kinh nghiệm. Thậm chí còn móc nối được với nhà xe, người bán vé lúc ấy mới ăn to, với điều kiện “biết lại quả” cho họ một chút”.
Ấy là Hón nói thế, tôi nghe có lý và không phản đối.
Phải công nhận một thời “Phe vé”, “Phe tem phiếu” là nghề kiếm được tiền tương đối dễ dàng.
Chỉ cần có gan, nhanh nhẹn, giảo hoạt một chút là có thể làm được.
Anh Bình nhìn thấy khi tôi đang chen xếp hàng. Mỗi lần xếp hàng như thế thật không dễ chịu chút nào. Dưới dùn lên, trên ép xuống, tê chân, tức ngực, thở không ra hơi.. Trời không đến nỗi nóng mà quần áo mồ hôi mồ kê ướt đầm đìa. Nhưng mua được cái vé, bán lại cho người khác giá trị ngày công gấp mấy lần các công việc khác.
Đã đứng vào hàng chỉ nhằm nhằm trông vào cái ô bán vé rộng bằng hai bàn tay. Ngoài ra chẳng để ý gì đến xung quanh.
Đến lúc anh Bình vỗ vai, tôi lại tưởng ai đó ở phía sau gây sự với mình, suýt văng tục. Quay lại nhìn, tôi chột dạ. Sao anh ấy lại biết mình ở đây?
Anh Bình không nói không rằng cầm tay tôi lôi ra khỏi hàng. Dù lúc này anh mặc thường phục, vẫn có người biết anh ở ty công an. Mọi người dãn ra không ai nói gì.
Anh bảo tôi lên xe chở về nhà. Cái xe đạp của anh xích khô dầu cứ kêu lách cách. Tôi định nhảy xuống đi bộ, nhưng anh Bình không cho.
Cả nhà tôi khi ấy đang chuản bị ăn cơm. Mẹ tôi khóc chán, mỏi mắt, cũng đã thôi. Bố tôi đánh liều “kệ xác nó, muốn đi đâu thì đi, lớn rồi đâu lên năm lên ba nữa mà cứ lo mãi!”, ông bảo thế, nhưng vẫn nhìn tôi chằm chằm.
Bố tôi vốn hiền hậu mà sao cái nhìn của ông khi ấy khiến tôi rất sợ, phải quay nhìn ra chỗ khác?
Tôi phải khâm phục cách xử trí khéo léo của anh Bình. Bố tôi trông thấy tôi đã định xạc cho một trận. Mẹ tôi mếu máo, các anh chị em khác cũng chẳng ai đồng tình. Sắp có trận mưa giông xảy ra đây, tôi nghĩ bụng.
Nhưng anh Bình ngăn được.
Anh làm như không có chuyện gì, mở xà cột lấy ra tờ giấy đưa cho bố tôi. Ông bảo:
- Giấy má gì? Anh cứ đọc luôn đi, tôi không đeo kính!


 ( Còn nữa..)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Lưu vong” trên chính quê hương

“Lưu vong” trên chính quê hương
Nước lên đến đâu, lại phải khiêng lều lên chỗ cao hơn để tránh ngập nước. Ảnh: C.P
(LĐ) - Số 174 - Thứ tư 31/07/2013 19:48
    Họ là những người dân của 3 làng chài di  động trên vùng lòng hồ Dầu Tiếng, vốn là Việt kiều trước đây sống ở Biển Hồ - Campuchia. Trở về quê hương, không giấy tờ tùy thân, không đất sản xuất, trẻ em thất học, đời sống những hộ dân Việt kiều này gặp muôn vàn khó khăn…
    Gần 30 năm, những mảnh đời này vẫn lầm lũi, vất vả kiếm sống nơi vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Tây Ninh và Bình Dương và chẳng ai quan tâm đến họ. Thi thoảng, ai đó hỏi thăm, họ chỉ biết ngậm ngùi: “Chúng tôi đang sống lưu vong trên chính quê hương mình”.

    Trôi nổi những mảnh đời  

    Bầy vịt vẫn vô tư lặn hụp cạnh bờ nước đục ngầu cỏ rác. Đám trẻ con vẫn hì hụp dưới hồ để vét cá trong đám lưới bùng nhùng bên cạnh những chiếc sào phơi lưới như không hề biết đến nỗi lo lắng của cha mẹ. Cạnh mép nước, ổ trứng gà mới đẻ còn nóng hổi vẫn chờ người chuyển đi để tránh nước ngập.

    Gạt vội dòng mồ hôi bết hằn trên mái đầu quăn tít, anh Tạ Văn Tiến vừa thở vừa nói với chúng tôi: “Khu vực này thuộc ấp Phước An, xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Tại đây hiện có 108 gia đình với gần 600 con người đều gốc Việt từ Campuchia về rải rác từ năm 1988 đến nay. Cứ mỗi lần nước hồ dâng cao là cả làng phải chuyển chỗ ở. Nhiều năm rồi cứ luẩn quẩn chạy nước lụt miết. Nước lên đến đâu là nhà phải dời lên cao đến đó”.

    Ngay trước mắt chúng tôi, ngay giữa trưa tháng 7, cái nắng như đổ lửa, nước mỗi lúc một dâng cao; hàng chục thanh niên da đen như “cột nhà cháy” hò nhau khiêng chiếc lều “cao cẳng” đặt lên hai chiếc thuyền nhỏ gắn máy đuôi tôm đậu gần sát mép nước để dời nhà, tránh nước ngập. Còn những người phụ nữ lục đục thu dọn vật dụng vương vãi trên bãi đất trống. Tất cả hướng về gò đất cao phía gần bờ hồ Dầu Tiếng để dựng nhà mới. Khệ nệ khiêng chiếc tivi đen trắng lấm lem bùn đất từ góc ngôi nhà lổn nhổn chai lọ, chủ quán càphê kiêm bán đồ nhậu duy nhất trong làng chài tươi cười phô hàm răng ám vàng khói thuốc: “Tivi này dùng cho cả làng, nhưng mấy tháng rồi hư mà chưa sửa được. Chủ yếu coi cải lương thôi. Điện không có phải dùng bình ắcquy. Cứ 2 ngày phải sạc một lần”.

    Chúng tôi theo chân đoàn người tay xách nách mang lên phía gò đất cao, nơi những ngôi nhà “cao cẳng” tiếp tục được dựng tạm bợ trên nền đất cỏ mọc um tùm. Ngồi bệt xuống nền đất còn khô ráo, những người đàn ông tranh thủ chia nhau vài điếu thuốc. Nhìn đám trẻ con vẫn chơi đùa ngoài mép nước, một người đàn ông có khuôn mặt khắc khổ thở dài: “Chúng nó chỉ biết lặn mò cá, gỡ lưới thôi chứ có học hành gì đâu. Cha mẹ không có mảnh giấy tờ lận lưng từ Biển Hồ về đây, nên con cái đành phải thất học. Làm quần quật từ sáng đến tối để kiếm cá bán lấy tiền mua gạo sống qua ngày, nên chuyện chữ nghĩa xa vời lắm”. Nói rồi người đàn ông này lén quay đi giấu nỗi buồn trong làn khói thuốc khét mù...

    Men theo con đường mòn, chúng tôi ghé vào chỗ chị Nguyễn Thị On, 40 tuổi, có 4 người con. Đó là một túp lều bé tẹo, mái lợp bằng những tấm nhựa đã bạc màu theo nắng gió. Nửa nằm nửa ngồi vá lưới trong căn lều bốn bề vi vút gió, chị On buồn rầu: “Nhiều đêm nằm cứ chập chờn lo sợ dông gió thổi sập lều, lo nước lớn cuốn mấy đứa con xuống lòng hồ. Sống ở đây thiếu mọi thứ: Không điện, không nước sạch nhưng lo nhất là đời mình đã thất học nay lại đến đời con cũng thế vì không ai có mảnh giấy tờ tùy thân, nên con cái đâu có giấy khai sinh để đi học. Nói thiệt, lúc ở Campuchia, bọn tôi sống lưu vong ở xứ người, bí quá mới tìm về Việt Nam, vậy mà sống cả chục năm nay, chẳng hiểu sao bọn tôi vẫn bị gọi là... Việt kiều?”.

    Cạnh đó, trên chiếc lều “cao cẳng”, hai vợ chồng ông Nguyễn Văn Thành tranh thủ đảo lại rổ lạc mà người con gái mót được từ mảnh ruộng gần đó. Rót mãi mới được cốc nước mời khách, bác Thành phân bua: “Mấy hôm nay không mưa nên nước uống phải tằn tiện lại. Còn tắm giặt, nấu ăn thì cứ ra giữa hồ mà múc về”. Nhìn về phía bầy trâu hàng trăm con của những người dân địa phương đang gặm cỏ, ông Thành thở dài: “Biết là nước bẩn nhưng phải cắn răng mà dùng, vì đây có phải đất của mình đâu mà đào giếng để lấy nước sạch. Chỉ tội cho mấy đứa trẻ vì nước bẩn mà bệnh tật liên miên, ghẻ lở khắp người”.

    Giấc mơ an cư 

    Thấy có người lạ vào làng, một đám trẻ con trần trùng trục tò mò chạy theo. Chúng tôi ngạc nhiên, không hiểu tại sao mà lắm trẻ con đến thế? Chúng tíu tít chạy theo đòi xem cái máy ảnh trên tay chúng tôi, dễ có đến 30 – 40 đứa gì đó, đứa lớn, đứa bé chỉ hơn nhau cái đầu. Thì ra trong xóm chài này, gia đình ít con nhất cũng 4 đứa, nhiều nhất đến 9 đứa. 
    Thu dọn đồ đạc trước khi nước lên.

    Nhìn gương mặt sạm nắng của anh Nguyễn Văn Giàu, 42 tuổi, chúng tôi ngỡ anh đã gần 60. Anh có 9 đứa con, đứa lớn 21 tuổi và đứa nhỏ nhất 5 tuổi cùng sống trong chiếc lều không đầy 10m2. Anh cho biết, 5 năm trước sống ở Biển Hồ khổ cực quá nên nghe theo lời anh em về ở đây, nhưng không ngờ ở đây cũng khổ cực chẳng kém gì bên đó. Cả gia đình chỉ trông chờ vào những mẻ lưới cá đêm của anh, lúc được lúc không nên chưa khi nào những đứa con của anh đủ ăn, đủ mặc.

    Không riêng gì gia đình anh Giàu, cả cái xóm chài này nhà nào cũng nheo nhóc, tối mặt tắt đầu vì lo bữa ăn hằng ngày, vì họ không có đất đai, hay bất cứ nghề ngỗng gì khác ngoài úp mặt xuống hồ.

    Nói về cuộc sống của những người dân từ Campuchia về sống du cư trong lòng hồ, một lãnh đạo của Công ty khai thác thủy lợi Dầu Tiếng lắc đầu: “Cũng là người dân nhưng cuộc sống của làng di động này quá khổ cực. Thấy họ sống trong lòng hồ không điện, không nước, trẻ con thất học chúng tôi cũng thấy buồn lắm, nhưng chưa biết sẽ giải quyết như thế nào vì nhiệm vụ này thuộc về chính quyền địa phương”.

    Điều kỳ lạ là khi chúng tôi hỏi hướng hỗ trợ cuộc sống bấp bênh cho những người dân này thì một cán bộ văn phòng UBND xã Phước Ninh đã “vặn” chúng tôi: “Ai cung cấp cho mấy anh tin này?”. Cãi nhau một hồi, cán bộ này mới thú thật, đến lúc này chính quyền xã vẫn không nắm được chính xác có bao nhiêu hộ dân Việt kiều từ Campuchia đang sống tạm cư trong lòng hồ? Còn về hướng giải quyết thì cũng khá chung chung theo kiểu chưa có quy định rõ ràng nên chính quyền xã chưa biết giải quyết ra sao...

    Anh cán bộ xã này cũng khẳng định với chúng tôi, rằng: Chính quyền xã thường xuyên phải giải quyết những vụ mâu thuẫn, tranh giành quyền lợi lẫn nhau của cư dân lòng hồ. Nhưng với lý do không giấy tờ tùy thân, không nhà cửa thì chính quyền không giải quyết bất cứ việc gì.

    Để hiểu rõ hơn cuộc sống của những người mà dân gian vẫn gọi là Việt kiều này, lựa lúc sẩm tối, chúng tôi quay lại làng chài. Lúc này, đường vào bị bầy trâu hàng trăm con nằm ngổn ngang án ngữ. Gầm gừ mãi chiếc xe máy mới vào đến doi đất lấp loáng ánh lửa hắt ra từ những túp lều dựng tạm lúc trưa. Đón chúng tôi ngay đầu làng, ông Tạ Văn Tiến vui mừng: “Chuyển xong nhà rồi, đang chờ bắt bầy gà nữa là xong”.

    Bên chén rượu suông với vài trái dưa chuột giữa những ánh mắt ngạc nhiên của hàng chục đứa bé đứng ken đầy bên ngoài, ông Tiến tâm sự: “Gia đình nào cũng đông con nên chật vật lắm. Tuy là làng sống tạm cư, nhưng còn khá hơn hai làng khác ở thượng nguồn hồ Dầu Tiếng, phía huyện Tân Châu; vì ở đây gần chợ cá nên người dân trong làng còn có chỗ bán. Lúc đầu làng này chỉ có vài hộ về cắm lều đánh cá sống qua ngày. Sau đó người về đông dần nhưng hồ Dầu Tiếng nổi tiếng là nhiều cá nên ai cũng có phần. Có lều ở tạm, có thuyền, có cá, có gạo ăn và sướng nhất là được sống trên đất quê hương. Mong ước cuối cùng của chúng tôi là sớm được định cư, có đất sản xuất để con cái được học hành...”.

    “Việc bà con mỗi ngày trở về từ Campuchia một đông, nhưng chính quyền tỉnh Tây Ninh vẫn chưa nắm được con số cụ thể và tổ chức định cư cho họ, e rằng sẽ gây ra nhiều phiền toái trong tương lai không xa. Không thể để bà con sống mãi kiếp “lưu vong” giữa lòng hồ, trên chính quê hương, mà không có sự quản lý của chính quyền địa phương, vì nó còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự của một công trình thủy lợi cấp quốc gia” - một lãnh đạo Công ty khai thác thủy lợi hồ Dầu Tiếng phát biểu.

      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Aung San Suu Kyi



      Đỗ Kim Thêm dịch 
      Lời người dịch: Sau khi trở về Miến Điện vào năm 1988 Aung San Suu Kyi lãnh đạo Liên Minh Quốc Gia Vì Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) để đấu tranh chống chế độ quân phiệt. NLD thắng lớn trong cuộc tuyển cử năm 1990 nhưng bị các tướng lãnh phủ nhận kết quả. Từ đó, bà bị quản thúc tại gia, sống cách biệt với gia đình tại Anh. Năm 1991 bà được giải Nobel Hoà Bình nhưng không thể đi nhận giải, vì sợ sẽ bị cấm trở lại Miến để tiếp tục đấu tranh. Hiện nay, nhờ Miến cải cách sâu rộng nên bà được tự do vào năm 2010 sau 15 năm bị quản thúc. Tháng 3 năm 2013 bà được tái đắc cử vào chức vụ Chủ tịch NLD. Triển vọng NLD nắm quyền và thay đổi chế độ quân phiệt vào cuộc bầu cử tự do vào năm 2015 trở thành hiện thực. Bà là biểu tượng cho khát vọng tự do của người dân Miến và trở thành ngọn đuốc hy vọng chung cho các phong trào đấu tranh dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới.
      Trong thời kỳ bị quản thúc bà lý giải về bản chất và tầm quan trọng về cuộc đấu tranh của NLD cho nền dân chủ Miến. Bà mô tả tình trạng mất tự do của dân Miến, thảo luận về phương cách bảo vệ tự do, nêu cao vai trò đối kháng bất bạo động của NLD và so sánh với những phong trào đấu tranh hiện nay tại các nước Trung Đông. Bà xem nỗ lực đấu tranh của mình và các đảng viên NLD là một sự đam mê có chọn lựa trong tự do, kể cả chiụ đựng. Bà kêu gọi người dám đối kháng hãy sống trong sự thật, can đảm hành động không sợ hãi, sống tự do trong một đất nước không tự do và giữ vững niềm tin để có ngày ước mơ biến thành sư thật. Tài liệu này được thu thanh bí mật tại nhà, sau đó chuyển lén cho BBC Luân Đôn và trở thành hai bài thuyết giảng trong chương trình The Reith Lectures của BBC Radio 4 năm 2011.
      Bản dịch sau đây giới thiệu hai tài liệu này và không dịch thơ của Kipling và phần thảo luận của bà với thính giả, nhưng hình ảnh, âm thanh và toàn văn xin truy cậptại đây. Người dịch cám ơn anh Lê Cao Bằng, Calgary, Canada đã hiệu đính bản dịch. 
      Bảo vệ tự do
      Được nói chuyện với các bạn hôm nay qua làn sóng đài BBC có một ý nghĩa vô cùng đặc biệt dành cho tôi. Một lần nữa ý nghĩa của nó là tôi là người có tự do một cách chính thức. Khi tôi là người đang mất tự do một cách chính thức - tôi muốn nói là tôi đang bị quản thúc tại nhà, thì BBC nói chuyện với tôi và tôi nghe. Nhưng việc nghe đài đem lại cho tôi một loại tự do: tự do vươn tới tâm hồn người khác. Dĩ nhiên, đó không giống như một cuộc trao đổi riêng tư, nhưng là hình thức của một cuộc tiếp xúc với con người. Tự do được tiếp xúc với người khác mà bạn muốn chia sẻ ý nghĩ, hy vọng, nụ cười và kể cả lúc bạn tức giận và căm phẩn, đó là một quyền mà không bao giờ được vi phạm. Dù tôi không được trực tiếp đến với các bạn ngày hôm nay, nhưng tôi rất biết ơn vì có cơ hội thực hiện được quyền tiếp xúc của mình để chia sẻ với các bạn về suy nghĩ của tôi về tự do, nó có ý nghĩa gì đối với tôi và với người khác khắp nơi thế giới, những người đang ở trong một tình trạng tệ hại mà tôi muốn gọi là mất tự do. 
      Một cuốn tiểu sử tự thuật mà tôi may mắn được đọc và có vẻ tiên tri, hoặc có thể là cả hai, là cuốn Seven Years Solitary của một phụ nữ người Hung. Tác giả theo một nhóm người trong cuộc nổi dậy của Đảng Cộng Sản trong những năm đầu tiên của thập niên 1950. Lúc mới 13 tuổi tôi đã say mê sự quyết tâm và khả năng thông minh giải quyết vấn đề của một người đàn bà đơn độc nhưng giữ được tinh thần sắc bén không hề bị lung lạc qua thời gian, khi sự tiếp xúc của bà chỉ với con người mà mối bận tâm hằng ngày của họ là cố tìm cách làm lay chuyển bà.
      Một trong những nhu cầu cơ bản nhất mà những người đối kháng quyết định can thiệp và kiên trì với công việc của mình là phải chuẩn bị một cuộc sống không có nhu cầu khác. Thực ra, sống không nhu cầu là một phần quan trọng của cuộc đời người đối kháng.
      Loại người nào mà họ đắn đo tự chọn con đường chịu sự tước đoạt này? Max Weber xác định ba đặc tính quan trọng của người làm chính trị là đam mê, tinh thần trách nhiệm và tinh thần tương đối. Ông giải thích đặc điểm đầu tiên là đam mê, đó là sự dâng hiến cho chính nghĩa. Sự đam mê như thế có tầm quan trọng cho những người dấn thân trước một loại nguy hiểm nhất trong chính trị: đối kháng chính trị. Loại đam mê như thế phải là cốt yếu của từng người và mỗi người quyết định, dù họ có tuyên bố hay không, là chịu sống trong một thế giới cách biệt với đồng bào của mình, một thế giới bất trắc và không có luật lệ thành văn. Đó là thế giới của đối kháng. 
      Không có những dấu hiệu bên ngoài cho thấy là có những cư dân xa lạ của thế gian đối kháng này có thể được biết đến. Bạn hãy đến trong bất cứ ngày làm việc nào trong tuần trong trụ sở chính của NLD, một địa điểm khiêm tốn có dáng vẻ đổ nát của một nơi ẩn trú dành cho một nhóm người nhiều chiụ đựng. Hơn thế, đôi khi NLD được mô tả như một chuồng bò. Vì những nhận xét này luôn mang nhiều nụ cười thiện cảm và thường là thán phục, chúng tôi không hề bị khó chiụ. Rốt cục, có một trong những phong trào nào gây ảnh hưởng nhất trên thế giới bắt đầu trong chuồng bò không? Rốt cuộc,có đúng không khi nói có một trong những phong trào gây ảnh hưởng nhất trên thế giới đã bắt đầu từ trong một chuồng bò? 
      Trong văn phòng xoàng xĩnh và chen chúc của chúng tôi, bạn tìm thấy những con người nhìn rất bình dị. Một người luống tuổi với mái tóc không chải chuốt nhưng có vẻ nghệ sĩ là một nhà báo lão luyện. Ông cũng là một nhà đối kháng cấp cao. Khi được phóng thích sau 20 năm tù ông ta khởi công viết ngay một cuốn sách về những kinh nghiệm thương đau có tựa là Is This A Human Hell?Ông ta luôn mặc áo tù ngắn màu xanh để luôn ý thức rằng mình vẫn còn có hàng ngàn tù nhân lương tâm ở Miến. Một người phụ nữ đeo kính, có vẻ ngăn nắp gọn gang với khuôn mặt không còn lo âu hay thất vọng là một bác sĩ đã sống 9 năm tù. Từ ngày được thả cách đây 3 năm, bà tất bật với những đề án về xã hội và nhân đạo của Đảng chúng tôi. Chúng tôi cũng có những cụ bà dịu dàng ở lứa tuổi 80. Họ đến làm việc thường trực trong văn phòng chúng tôi từ năm 1997. Đó là một trong những năm giông bão như „sóng thần Tsunami“, khi làn sóng đàn áp bắt đi nhiều thành viên hoạt động cho dân chủ phải vào tù. 
      Tại một trong các buổi họp của Đảng, tôi kêu gọi các bà, giới trẻ và các bậc phụ huynh của người bị bắt đoàn kết với chính nghĩa của chúng tôi để cùng chứng tỏ cho giới quân phiệt thấy chúng ta sẽ không bao giờ bị đánh bại; những người còn đang tự do sẽ tiếp tục theo đuổi đường lối của những người mà tự do của họ đã bị tướt đoạt. Những cụ bà đáng mến là những người can đảm tiếp tục theo con đường này. Họ vẫn còn giữ vững đường lối với lòng kiên trì.
      Bạn cũng sẽ thấy trong văn phòng NLD chúng tôi có đủ nam và nữ giới mà người Miến gọi là ở vào lứa tuối tốt đẹp nhất, điều này có nghĩa là họ ở vào lưá tuổi trên 40. Khi họ gia nhập vào Phong Trào Dân Chủ, họ ở vào lưá tuổi trên hai mươi hay trẻ hơn, khuôn mặt tinh anh và mắt sáng lóng lánh, say mê cho chính nghĩa. Bây giờ thì họ trầm tĩnh, chín chắn, nhiều cương quyết hơn, đam mê của họ được tôi luyện qua nhiều thử thách mà họ trải nghiệm. Bạn không nên hỏi họ nếu họ có từng vào tù chưa, mà phải hỏi họ đã bị vào bao nhiêu lần.
      Nhưng cũng có những giới trẻ, nhưng không quá trẻ để trở thành người xa lạ với những cuộc tra tấn và tù tội. Khuôn mặt của họ bừng sáng với niềm hy vọng, nhưng chín chắn, thoát khỏi mọi ảo ảnh. Họ biết rõ là họ phải mình can thiệp vào việc gì. Họ thách thức tương lai với ánh mắt sáng ngời. Vũ khí của họ là niềm tin; áo giáp của họ là niềm đam mê, đó cũng là đam mê của chúng tôi. Nỗi đam mê này là gi? Nguyên nhân nào khiến chúng tôi dâng hiến khi từ bỏ những tiện nghi của cuộc sống thông thường? Tôi dựa vào định nghĩa của Vaclav Havel khi nói về công việc chủ yếu của người đối kháng: chúng ta dâng hiến để bảo vệ quyền của các cá nhân được sống đời tự do và chân thực. Nói cách khác, đam mê của chúng tôi là tự do.
      Đam mê còn có nghĩa là chịu đựng và tôi muốn khẳng định điều này trong khung cảnh chính trị cũng như trong tôn giáo, nó bao hàm chịu đựng do chọn lựa: một quyết định có đắn đo thích bám chặt mà đúng hơn là buông bỏ (nắm lấy cơ hội hơn là để nó qua đi). Đó không phải là một quyết định dễ dàng, vì chúng ta không hưởng thú đau thương, không phải là hạng người hưởng thụ do sự hành xác (thích bị hành xác). Bởi vì đó là giá trị cao cả mà chúng ta đặt ra trong mục tiêu đam mê, chúng ta có thể chọn lưạ chiụ đựng, đôi khi dù là cho chính mình. 
      Tháng năm 2003 một đoàn xe của các đảng viên và cảm tình viên của NLD hộ tống tôi trong một chuyến đi vận động tranh cử tại Dabayin, một tỉnh nhỏ Bắc Miến, chúng tôi bị bao vây và tấn công bởi những kẻ vô danh mà được suy đoán là dưới sự điều động của nhóm quân phiệt. Đến ngày nay không ai nghe tin gì về số phận của người tấn công, nhưng chúng tôi, những nạn nhân đều bị bắt. Tôi bị giam trong tù(nhà tù nỗi tiếng Insein và được (bị) giữ riêng, nhưng tôi phải thú nhận là được giữ chặt chẽ (được đối xử tốt) trong một nhà nhỏ cách biệt với khu của các tù nhân khác. 
      Một buổi sáng khi tôi tập thể dục, để giữ cơ thể khỏe mạnh như có thể giữ được, theo ý kiến của tôi, đó là một trong những bổn phận đầu tiên của một tù nhân chính trị. Tôi tự nghĩ rằng mình không phải là mình. Tôi không còn có thể giữ mình trầm tĩnh như thế này nữa. Tôi nằm cong người trên giường một cách yếu đuối, lo nghĩ trong đầu về hoàn cảnh của những người cùng cảnh ngộ với tôi tại Dabayin. Bao nhiêu người trong nhóm người này bị đánh đập tàn nhẫn? Bao nhiêu người trong nhóm bị dẫn đi đến những nơi mà tôi không biết đi đâu? Bao nhiêu người đã chết? Và những gì đã xãy ra đối với các thành viên khác của NLD? Tôi nằm dài người với nỗi lo âu và bất trắc. Tôi không còn thấy là mình đang ở đây nữa khi đang tập luyện nghiêm túc để giữ cơ thể khoẻ mạnh.
      Lúc ấy, tôi không có nhớ lời thơ của Akhmatova: "Không, đó không phải là tôi. Đó là một người nào khác chịu đựng. Tôi không bao giờ có thể đối đầu với điều này và tất cả những gì xẩy đến." Thời gian rất lâu sau đó khi tôi trở về nhà riêng, nhưng chịu sự quản thúc, những lời tưởng niệm này lại đến với tôi. Trong phút giây hồi tưởng tôi cảm thấy hầu như sức mạnh cơ thể làm nối kết mạnh mẽ chúng tôi, những người chỉ có nội lực dồn lại khi chúng tôi chỉ đang cần sức mạnh và chịu đựng là hơn cả.
      Thi ca là một kết hợp tuyệt vời mà không cần biết đến giới hạn của không gian hay thời gian. U Win Tin, người mang chiếc áo tù, hướng về thi phẩm Invictus của Henly để làm sống lại thời kỳ bị tra khảo mà ông chịu đựng. Thi phẩm này tạo cảm hứng cho ba tôi và các người bạn đồng thời với ông trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, thi ca dường như cũng đã gây hứng khởi cho những chiến sĩ chiến đấu cho tự do trong những nơi khác vào những thời điểm khác. Đấu tranh và chịu đựng, đầu dù đẩm máu nhưng không khuất phục và kể cả hy sinh tính mạng, tất cả vì để giữ lấy tự do. 
      Tự do là gì mà nó lại là nỗi đam mê của chúng tôi? Những người đối kháng nồng nhiệt nhất của chúng tôi không hề quan tâm đến các lý thuyết hàn lâm về tự do.
      Nếu khi bị gạn hỏi tự do có ý nghĩa gì đối với họ, thì hầu hết họ chỉ nhanh nhẩu đáp về một danh sách các quan tâm thiết thân nhất với họ, thí dụ như là không còn tù nhân chính trị nữa hoặc là sẽ có tự do ngôn luận, thông tin và hội họp, hoặc là chúng tôi có thể chọn loại chính phủ nào mà chúng tôi muốn, hoặc đơn giản hơn, một cách bao quát, chúng tôi muốn làm những gì mà chúng tôi muốn.
      Việc này xem như có vẻ ngây thơ, có lẽ ngây thơ một cách nguy hiểm, nhưng những tuyên bố như thế phản ánh ý nghĩa tự do như là một cái gì đó cụ thể phải đạt được qua công việc thực tế, không phải là khái niệm chỉ nắm bắt được bằng lập luận triết lý.
      Cứ mỗi thời kỳ quản thúc kéo dài kết thúc tôi được hỏi có cảm nghĩ gì về tự do, tôi trả lời là không có gì là khác biệt bởi vì tinh thần của tôi luôn có tự do. Tôi thường nói rõ là tự do nội tại là bắt nguồn từ một tiến trình hoà hợp với lương tâm của con người. Isaiah Berlin cảnh báo chống lại những nguy hiểm của về sự giam hãm của tự do.
      Ông nói: "Tự do tâm linh giống như chiến thắng tinh thần, nó phải được phân biệt từ trong một ý nghĩa nền tảng hơn của tự do và thông thường hơn của chiến thắng. Mặt khác, sẽ có nguy hiểm nhầm lẩn trong lý thuyết và biện luận về đàn áp trong thực tế khi nhân danh cho tự do.“
      Chắc chắn một điều là có nguy hiểm khi chấp nhận tự do tâm linh thay thế thoả mãn hoàn toàn cho tất cả mọi tự do khác thì có thể đưa tới thụ động và cam chịu. Nhưng ý nghĩa nội tại của tự do có thể đẩy mạnh tạo ra động lực thiết thực cho những tự do nền tảng hơn trong hình thức của nhân quyền và uy lực pháp quyền. Phật giáo dạy rằng giải thoát tối hậu là buông bỏ tất cả mọi ham muốn. Vì thế mà có thể lập luận là giáo lý của Đức Phật làm cản trở những phong trào dựa trên những mơ ước về tự do trong hình thức của nhân quyền và cải cách chính trị. Tuy nhiên, khi những vị sư tăng tuần hành vào năm 2007 trong tinh thần yêu chuộng điều thiện, họ phản đối việc tăng giá nhiên liệu đắt đỏ gây tác haị làm tăng giá thực phẩm. Họ sử dụng uy lực tinh thần làm thay đổi quyền căn bản con người về những loại giá thực phẩm mà người ta có thể mua được.
      Niềm tin về tự do tinh thần không phải có nghĩa là vô cảm với những nhu cầu thiết thực về những quyền căn bản và tự do, mà nói chung nó được xem là cần thiết cho con người được sống như con người.
      Nhân quyền căn bản mà tôi xem trọng là thoát khỏi sợ hãi. Ngay từ khởi thuỷ của phong trào dân chủ tại Miến chúng tôi phải khằng định với ý nghĩa bạc nhược nỗi sợ hãi đang thâm nhập toàn xã hội. Du khách thăm Miến nhận ra ngay người Miến nhiệt tình và hiếu khách. Đáng buồn hơn, họ nói thêm, nói chung, người Miến sợ thảo luận các đề tài chính trị.
      Sợ hãi là kẻ thù đầu tiên mà chúng ta phải vượt qua khi chúng ta đề ra cuộc đấu tranh cho tự do và thường sợ hãi còn lại cho đến chung cuộc. Nhưng thoát khỏi sợ hãi không thể nào kết thúc. Nó chỉ đủ để giúp cho chúng ta có thể được tiếp tục, và tiếp tục mặc dù sợ hãi đòi hỏi can đảm tột bực. 
      „Không, tôi không sợ. Sau nhiều năm hít thở trong những đêm tù ngục, tôi muốn trốn thoát vào trong sự buồn thảm mà không có tên gọi. Điều này không đúng. Tôi sợ, bạn thân yêu, nhưng bạn hãy nhìn nó dù bạn không nhận ra.“
      Lòng dũng cảm thể hiện qua những vần thơ của Ratushinshaya là cách sống hằng ngày của người đối kháng. Họ ra vẻ không sợ khi làm nhiệm vụ và không thấy các chiến hữu của mình cũng lộ vẻ như thế. Đó không phải là đạo đức giả mà là can đảm được lập đi lập lại trong hằng ngày và trong từng thời điểm có ý thức. Đó là cách tự do phải được chiến đấu cho đến khi nào chúng ta có quyền thoát khỏi sợ hãi do tàn bạo và bất công áp đặt. 
      Akhmatova và Ratushinskaya là người Liên Xô. Henley là người Anh. Nhưng đấu tranh để sinh tồn dưới đàn áp và đam mê làm chủ đưọc vận mệnh và tự lèo lái cho tâm hồn là điểm chung cho mọi chủng tộc.
      Khát vọng chung của con người được tự do làm chúng tôi hiểu rõ hơn với những biến chuyển sôi động tại Trung Đông.
      Cũng như các dân tộc ở các nơi khác, người Miến cũng háo hức bởi những biến động này. Mối quan tâm của chúng tôi càng đặc biệt sâu xa hơn vì có tương đồng đáng kể giữa cách mạng tháng 12 năm 2010 tại Tunisia và cuộc nỗi dậy của chúng tôi vào năm 1988. Cả hai cùng khởi đầu vào thời điểm dường như có những biến động nhỏ không quan trọng.
      Một người bán trái cây tại một tỉnh của Tunisia, vô danh trong một thế giới rộng lớn, đã tạo ra một cuộc chống đối không thể nào quên được về tầm quan trọng của quyền căn bản con người. Một người bình dị chứng tỏ cho thế giới thấy đối với ông ta quyền có nhân phẩm còn quan trọng hơn là mạng sống. Điều này làm bộc phát một cuộc các mạng toàn diện. Tại Miến, tranh cải trong một tiệm trà tại Rangoon giữa những sinh viên và người địa phương được cảnh sát xử lý mà những sinh viên coi chuyện này là bất công. Điều này đưa đến nhiều biểu tình mà kết cuộc là sinh viên Phone Maw thiệt mạng. Nó làm ngọn lửa cho các cuộc biểu tình bùng lên mà cả nước chống lại chế độ độc tài của Đảng Chương Trình XHCN Miến.
      Một người bạn nói rằng đây là tình trạng giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước. Việc thể hiện này cho thấy gánh nặng đến mức độ không còn chiụ đựng được và sự sụp đổ thực ra là vì không ai còn tiếp tục chịu đàn áp.
      Ở Tunis và Miến cái chết của hai người trẻ là một tấm gương cho người ta thấy gánh nặng về bất công và đàn áp mà họ không thể chịu đựng được nữa. Một chuyện tự nhiên là giới trẻ khao khát tự do. Mơ ước mở rộng đôi cánh vừa mới trưởng thành càng mạnh càng tốt, đó thuộc về bản năng. Điều này không làm cho chúng tôi ngạc nhiên khi tại Miến giới trẻ là đạo quân tiền phong ủng hộcách mạng Tunisia. Cũng không thể ngạc nhiên khi giới trẻ hát nhạc Rap bình dân là nổi bật trong số những người đòi hỏi được phép quyết định về cuộc đời mình.
      Tại Miến ngày nay giới trẻ chơi nhạc Rap là thành phần cốt cán của phong trào Thởi Đại Đợt Sóng Mới, một tổ chức không chính thức nhưng lại cống hiến nhiệt tình cho dân chủ và nhân quyền. Một số người trong bọn họ đã bị cầm tù trong cuộc cách mạng của các sư tăng. Hiện nay còn khoảng 15 người trong nhóm này vẫn còn bị giam giử. Chính quyền Miến, giống như chính quyền Tunisia đã bị hạ bệ, không được giới trẻ sống cuồng nhiệt và bình dị yêu chuộng.
      Họ nhìn giới trẻ này như là mối đe doạ cho trật tự mà họ muốn áp đặt trên đất nước. Đối với người tin vào tự do, giới trẻ chơi nhạc Rap này biểu hiện cho một tương lai không ràng buộc vào định kiến, luật lệ độc tài, áp chế và bất công.
      Những điểm tương đồng giữa Tunisia và Miến là họ nối kết được người dân trên toàn thế giới khao khát cho tự do. Họ cũng có những điểm dị biệt vì là kết quả của hai cuộc cách mạng khác nhau. Điểm dị biệt đầu tiên là trong khi quân đội Tunisia không bắn vào dân chúng thì quân đội Miến lại làm. Điểm thứ nhì là trong trường kỳ và có lẽ quan trọng hơn là cách mạng Tunisia tận dụng được những lợi thế của cách mạng truyền thông.
      Đó không phải vì truyền thông chỉ đem lại khả năng cho dân Tunisia tổ chức và phối hợp phong trào tốt hơn. Nó làm cho sự quan tâm của thế giới về họ mạnh mẽ hơn. Không phải chỉ một thiệt mạng mà cứ mỗi một tổn thương nào cũng được thế giới biết đến chỉ trong một vài phút. Ngày nay tại Libya, Syria và Yemen những cuộc cách mạng thông báo cho thế giới biết được những tàn bạo của những kẻ đương quyền. Hình ảnh của một đứa trẻ 13 tuổi bị tra tấn cho đến chết tại Syria gây công phẩn mà các nhà lãnh đạo thế giới phải lên tiếng kết án. Truyền thông có nghĩa là tiếp xúc và trong bối cảnh các cuộc cách mạng Trung Đông nó có nghĩa là tiếp xúc tự do.
      Chúng tôi có ganh tị với người dân ở Tunisa hay Ai Cập không? Có, chúng tôi ganh tị vì họ có những cuộc chuyển hoá nhanh chóng và an hoà. Nhưng ngoài sự ganh tị này là tinh thần đoàn kết và kết ước mới mẻ cho chính nghĩa chúng ta, chính nghiã của mọi người nam nữ cùng đề cao giá trị nhân phẩm con người và tự do trong tìm kiếm tự do, chúng ta học thế nào để được tự do. Đó là điều mà Vaclav Havel nói tới trong tác phẩm Living in Truth. Chúng tôi khởi đầu bổn phận của mình thoát thai từ ý muốn tự do của chính chúng tôi, mặc dù những nguy hiểm cố hữu trong cố gắng sống như một người tự do trong một đất nước không tự do. Chúng tôi hành sử tự do chọn lựa bằng cách chọn lựa hành động những gì mà chúng tôi coi là đúng đắn, ngay cả khi việc chọn lựa này làm bớt đi các tự do khác, vì chúng tôi tin rằng tự do sinh ra nhiều tự do khác.
      Các cụ bà và giới trẻ đến làm việc không lương tại văn phòng chính của NLD đang hành sử quyền chọn lựa con đường gian truân cho tự do.
      Khi tôi nói chuyện với các bạn, tôi đang hành sử quyền tự do thông đạt và thực ra tôi đang hành sử quyền làm cho tôi cảm thấy mình là một người có tự do nhiều hơn.
      Đối kháng là thiên chức phù hợp với quan điểm của Weber khi ông coi chính trị như là thiên chức. Chúng tôi dấn thân cho đối kháng vì nhân danh tự do và chúng tôi chuẩn bị thử nghiệm liên tục với đam mê, trong tinh thần trách nhiệm và ý nghĩa tương đối nhằm đạt tới những gì mà một số người cho là điều bất khả. Chúng tôi đang tiếp tục chiến đấu với đôi mắt rộng mở để biến giấc mơ của chúng tôi về tự do thành hiện thực.
      Tôi xin được kết thúc bài nói chuyện này với những vần thơ của Kipling mà tôi yêu thích. Tôi xin cám ơn Tim Garton Ash đã trích dẫn đoạn này cho tôi. “I´d not give room for an Emperor. I' d hold my road for a King. To the Triple Crown. I'd not bow down - but this is a different thing. I' ll not fight with the Powers of Air - sentry, pass him through! Drawbridge let fall - He is the lord of us all - The Dreamer whose dream came true.”
      Vai Trò Của Đối Kháng
      Khi đồng ý tham dự vào chương trình thuyết giảng The Reith tôi có nhiều lo âu, điều này dựa trên mơ ước đơn thuần là muốn khám phá xem chúng tôi là ai. Khi tôi nói „chúng tôi“, tôi muốn đề cập tới NLD cũng như những nhóm và cá nhân khác đang dấn thân tranh đấu cho dân chủ tại Miến.
      Chúng tôi đã dấn thân tranh đấu cho dân chủ từ hơn 20 năm qua. Các bạn có thể nghĩ chúng tôi phải biết chúng tôi là ai. Vâng, chúng tôi biết chúng tôi là ai, nhưng chỉ đến một vài điểm nào đó thội. Điều này cũng đủ để nói là chúng tôi là những thành viên của một đảng đặc biệt như NLD hoặc là tổ chức, nhưng đi xa hơn thế nữa thì có những điều không rõ rang.
      Tôi nhận thức sâu sắc về điều này từ khi tôi được trả tự do từ sau lần quản thúc thứ ba vào tháng 11 rồi. Có lẽ tôi phải giải thích. Đủ chuyện xãy ra trong khi tôi bị quản thúc, bị cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài. Hai biến cố đáng kể nhất, tôi cố nói đây là chuyện không may - chuyện xãy ra tại Miến là trưng cầu dân ý vào năm 2008, theo sau là cuộc tổng tuyển cử vào tháng 11 vừa rồi. Trưng cầu dân ý chỉ nên xem như là trò để trình diễn - hay ít nhất giới quân phiệt Miến hy vọng trình diễn như vậy - là hơn 90 phần trăm cử tri ủng hộ cho một hiến pháp mới; một hiến pháp tạo cho quân đội có quyền nắm tất cả mọi quyền lực của chính phủ bất cứ lúc nào mà họ thấy cần thiết để đem lại điều tốt đẹp cho đất nước. Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên sau gần 20 năm có nghĩa là làm những gì phù hợp với mà những tuớng lãnh gọi một cách phi lý là một „lộ trình cho một nền dân chủ có kỷ luật“ cuả họ
      Vần đề xảy ra khi lộ trình khởi diễn phức tạp hơn. Muốn tham gia những cuộc bầu cử này, các đảng chính trị mới phải đăng ký với Uỷ Ban Bầu Cử cùng với những đảng khác mà trước đó đã đăng ký kể từ năm 1988. Những đảng này phải bảo vệ hiến pháp đã được soạn thảo hai năm trước đó. Đảng phải loại trừ các đảng viên còn ở trong tù, kể cả những người đang kháng án. Việc này họ kể cả luôn tôi, tôi sẽ bị loại ra khỏi Đảng nếu NLD muốn đăng ký. Thay vì thế, Đảng chọn lựa tiếp tục giữ quyền duy trì như là một đảng chính trị theo luật tòa án, mặc dù chúng tôi ý thức sâu xa là không có một nền tư pháp độc lập tại Miến. 
      Khi tôi không còn bị quản thúc năm vừa qua, chỉ vài ngày sau bầu cử, tôi phải đối diện với hàng loạt các vấn đề. Hai vấn đề xãy đến thường xuyên nhất, đầu tiên là NLD có trở thành một tổ chức vi phạm pháp luật không? Thứ hai tôi thấy như thế nào về vai trò của Đảng hiện nay, Đảng có đối kháng công khai khi mà không có kể đến chúng tôi. Thay vào đó, có một số Đảng mà các đại biểunày chiếm ít hơn 15 phần trăm số ghế trong Quốc Hội Miến. 
      Câu hỏi đầu tiên rất dễ trả lời, chúng tôi không phải là một tổ chức vi phạm luật pháp vì chúng tôi không phạm vào những điều khoản về luật tổ chức phạm pháp. Thứ hai, nếu nhìn về vai trò của Đảng, thì có nhiều khó khăn hơn, vị thế của NLD khá mơ hồ từcuộc bầu cử 1990 khi chúng tôi thắng 4/5 số phiếu và gây chấn động cho Hội Đồng Phục Hồi Trật Tự và Luật Pháp Quốc Gia (The State Law and Order Restoration Council), một tên gọi chính thức cho chế độ quân phiệt Miến. Thời gian sống trong chế độ quân phiệt tạo ra nhiều thuật ngữ theo kiểu gọi của Orwell. 
      Có nhiều nước mà các cuộc bầu cử gian lận hoặc kết quả gây tranh cải hay phủ nhận, nhưng ở Miến là một nơi chỉ có một chuyện là kết quả bầu cử được công khai công nhận trong công báo và sau đó không tạo ra một cái gì hết. Không có gì xãy ra đem lại vai trò thực sư cho đảng thắng cử hay các đại biểu được tuyển cử mặc dù có các hứa hẹn trước đó của lãnh đạo quân phiệt là trách nhiệm của chính phủ sẽ giao cho người thắng cử khi bầu cử kết thúc và quân đội sẽ âm thầm trở về doanh trại.
      Kết quả nổi bật nhất của những cuộc bầu cử vào năm 1990 là đàn áp có hệ thống tất cả các đảng và tổ chức, chính thức hay không chính thức, cũng như những cá nhân kiên gan đòi hỏi cho dân tộc Miến được thực thi ước muốn một nền cai trị dân chủ.
      Chúng tôi đã thắng, nhưng cuộc bầu cử năm 1990 báo trước sự khởi đầu của những năm khó khăn của NLD. Đảng nỗ lực kiên quyết để mình tự sống còn, và nhất là không bị đánh bại. Đối với giới quan sát, Đảng bắt đầu hấp hối chỉ đúng vào năm trước khi chủ tịch Đảng U Tin Oo và những nhân vật chủ chốt của Phong Trào Dân Chủ bị cầm tù và tôi bị quản thúc tại gia.
      Khi U Tin Oo và tôi được trả tự do 6 năm sau, chúng tôi thấy một vài trong số những nhà hoạt đông có hiệu năng nhất của chúng tôi vẫn còn bị giam, đi tị nạn hay chết. Một số khác sức khoẻ bị suy sụp do kết quả của những năm khắc nghiệt nơi lao tù mà họ không được trợ cấp thuốc men tối thiểu. Phần lớn các văn phòng của chúng tôi bị buộc phải đóng cửa. Mọi sinh hoạt của chúng tôi bị cắt giảm trầm trọng bởi đủ loại luật lệ, và mọi chuyển động của chúng tôi đều bị Công An khắp nơi giám sát chặt chẻ.
      Công An có thể kéo bất cứ ai của chúng tôi đi bất cứ lúc nào - họ thích làm lúc đêm khuya thanh vắng hơn - với bất cứ cáo giác nào mà họ thích. Giữa những khủng bố liên tục chúng tôi vẫn là một đảng chính trị chính thức, không giống như ngày nay, và chúng tôi được xem như một đảng đối kháng. Chúng tôi ở vị thế đối kháng, nhưng không phải đối kháng chính thức. Chúng tôi có nên chấp nhận mình là đối kháng không? Rốt cuộc, thì chúng tôi chống chính phủ, bất kể chính phủ có chính thống hay không. 
      Năm 1997, Hội Đồng Phục Hồi Trật Tự và Luật Pháp Quốc Gia (the State Law and Order Restoration Council, SLORC), đổi tên thành Hội Đồng Phát Triển và Hoà Bình Quốc Gia, (the State Peace and Development Council, SPDC). Nhưng có phải vì các thầy bói toán khuyên nên đổi tên như thế là cần thiết để tránh khả năng thay đổi chế độ hoặc vì giới quân phiệt quá mệt mỏi với những chuyện đàm tiếu do cụm từ thu ngắn của SLORC thoáng mùi không thoải mái cũng như một tổ chức giả tạo của SMASH hay không thì chúng tôi không hề biết. Lời giải thích chính thức là tên mới chỉ rõ là đã đến lúc giới quân phiệt nên thay đổi cho nhiều chuyện lớn lao và tốt đẹp hơn khi họ thành công trong ý định công khai thiết lập luật pháp và trật tự. Nên nhận ra rằng khi người Miến nói về luật pháp và trật tự một cách văn vẻ thì nên hiểu đó là bất động, luồn cúi, bị đè bẹp và đánh bại, điều này không xa sự thật.
      Khi chế độ nói về luật pháp và trật tự đó là tình trạng mà chúng tôi chống đối triệt để: một đất nước của người dân thụ động, luồn cúi, bị đè bẹp và đánh bại, đó là những phản đề những gì mà chúng tôi đang cố gắng vượt qua. Đường lối của NLD bắt đầu thể hiện rõ hơn khi chúng tôi đối đầu những thách thức của cuộc đấu tranh sống còn như là một thực thể chính trị dưới độc tài quân sự.
      Chúng tôi tìm những ý tưởng và cảm hứng từ trong văn hoá và lịch sử của chúng tôi, trong những cuộc đấu tranh cho những thay đổi cách mạng nơi những quốc gia khác, trong những tư tưởng của các triết gia và những ý kiến của giới quan sát và giới trí thức, lời lẽ của giới phê bình, lời khuyên của những người hổ trợ và những người bạn. Chúng tôi phải tìm đuờng lối và phương tiện hoạt động một cách hữu hiệu có thể được trong phạm vi mà giới quân phiệt đặt ra cho chúng tôi, trong khi đồng thời chúng tôi cũng tìm cách mở rộng khả năng. Chắc chắn một điều là chúng tôi không thể thực hiện những chức năng mà người ta có thể kỳ vọng nơi một đảng đối lập trong điều kiện thông thường.
      Khi đàn áp càng gia tăng, những người của chúng tôi thuộc NLD cảm thấy bản chất chủ yếu của chúng tôi càng ngày càng xa rờivới bản chất đối kháng theo truyền thống. Chúng tôi công nhận rằng khi một đảng chính trị có được hậu thuẩn mạnh mẽ nhất, trong nước và hải ngoại, cùng với sự công nhận như thế chúng tôi mang thêm gánh nặng trách nhiệm. Nhưng chúng tôi không hưởng một đặc quyền nào dành riêng cho đảng khi dân chủ và quyền căn bản của một tổ chức chính trị chính thống đang được hoạt động. Chúng tôi đồng ý ít nhiều vào thế đối kháng.
      Một trong các bài diễn văn công khai của tôi soạn trong năm 1988, tôi có đề nghị là chúng ta khởi động một cuộc đấu tranh lần thứ hai cho độc lập. Lần thứ nhất giữa thế kỷ trước, đã mang lại độc lập cho chúng tôi từ cai trị của thuộc điạ. Lần thứ hai, chúng ta hy vọng sẽ mang lại tự do từ độc tài quân phiệt.
      Những sinh viên đóng vai trò chủ chốt khi họ nỗi dậy trong các cuộc biểu tình năm 1988 gợi lại những hình ảnh lan rộng cả nước cùng những cuộc biểu tình cho độc lập trong những năm của thập niên 1930. Một số trong những sinh viên trong thời quá khứ đã trở thành những biểu tượng hàng đầu quốc gia và phục vụ như những thành viên của chính phủ trong thời kỳ hậu độc lập hoặc là những nhà lãnh đạo đảng cho đến khi họ bị buộc phải rời khỏi chính trường sau chính biến quân sự năm 1962. Một vài chiến sĩ trong thời kỳ dành độc lập đã nhanh chóng tham gia phong trào dân chủ kết hợp cuộc đấu tranh mới với cuộc đấu tranh trước kia.
      Có nhiều khác biệt giữa hai cuộc đấu tranh mà hiển nhiên nhất là trong khi các bậc cha mẹ của chúng tôi đấu tranh chống ngoại xâm, còn chúng tôi dấn thân chống những người đối nghịch mình mà họ cùng có cùng đất nước, chủng tộc, màu da và tôn giáo. Sự khác biệt rất chủ yếu cho dù ít được công nhận như vậy, đó là trong khi chính phủ thuộc điạ là độc tài, nhưng đáng nói nhất là lại ít độc tài hơn chính quyền quân phiệt từ khi họ nắm quyền vào năm 1988.
      Một nhà văn nổi danh từng tham gia vào phong trào đấu tranh giành độc lập khi còn là sinh viên trẻ và dấn thân đấu tranh bí mật kháng chiến trong thời Nhật chiếm đóng, nói với tôi vào năm 1989 là bà nghĩ rằng những thách thức mà chúng ta đối đầu khó khăn hơn những gì mà bà và các bạn đồng thời đã đấu tranh trước đây. Trước và sau Đệ Nhị Thế chiến uy lực pháp quyền đã bảo vệ cho những phong trào đấu tranh độc lập thoát khỏi những biện pháp hà khắc của chính quyền Anh. Khi chiến tranh và quân Nhật xâm chiếm đất nước, sự hiện diện của quân đội Miến mới được thành lập do ba tôi chỉ huy, hành sử như trái độn giữa kháng chiến và những phần tử xấu xa nhất của các lực lượng chiếm đóng. Chúng tôi có thể tìm những nguồn cảm hứng từ trong chiến thắng của các bậc tiền nhân của chúng tôi, nhưng không thể tự giới hạn mình trong lịch sử riêng của chúng tôi, trong việc tìm kiếm những ý tưởng và chiến thuật có thể giúp cho cuộc đấu tranh của chúng tôi. Chúng tôi phải vượt qua giới hạn kinh nghiệm thời thuộc điạ. 
      Trong khi chế độ thích còn ràng buộc vào quá khứ, cáo buộc chủ nghĩa thực dân về tất cả mọi xấu xa của đất nước và làm ô danh chúng tôi khi cho rằng NLD và các cảm tình viên là người theo chủ nghĩa thực dân mới. Tìm trong thế giới để bắt chước ý tưởng và cảm hứng, một điều tự nhiên là chúng ta phải quan tâm hướng về người bạn láng giềng Ấn Độ. Chúng ta tìm xem chiến thuật và chiến lựợc của Phong Trào Độc Lập Ấn Độ và các tư tưởng và các triết lý của các nhà lãnh đạo, để tìm kiến những gì liên quan và hữu ích.
      Giáo huấn của Gandhi về đấu tranh dân sự bất bạo đông và phương cách đưa lý thuyết của ông vào thực tế đã trở thành cẩm nang hành động cho những ai muốn thay đổi chế độ độc tài qua những phương tiện hiếu hoà. Tôi bị cuốn hút bởi đường lối bất bạo động không phải vì lý do đạo đức như một vài người tin tưởng, mà chỉ tin vào những lý do chính trị thực tiển.
      Hai vấn đề không hoàn toàn giống nhau khi những phương cách mơ hồ hay thực dụng hoặc tổng hợp bất bạo đông đã được gán cho là lý tưởng chính trị của Gandhi hay nhân quyền của Martin Luther King. Việc này chỉ đơn giản dựa vào niềm tin của tôi là chúng ta chấm dứt truyền thống thay đổi chế độ bằng bạo lực, một truyền thống đã trở thành nghiêm trọng của chính trị Miến. 
      Khi quân đội đè bep những cuộc nổi dây vào năm 1988 bằng cách bắn vào các người biểu tình không vũ trang mà không phân biệt hay hạn chế, hàng trăm sinh viên và các nhà hoạt đông khác chạy qua bên kia biên giới Thái Lan. Một số tin rằng người sống bằng súng đạn phải bị đánh bại bằng súng đạn, họ quyết định thành lập vũ trang cho sinh viên để đấu tranh cho dân chủ.
      Tôi không bao giờ kết án và sẽ không bao giờ kết án đường lối mà họ chọn lựa bởi vì có đủ nguyên nhân cho họ kết luận con đường duy nhất để thoát khỏi chế độ đàn áp là con đường đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên cá nhân tôi từ bỏ con đường này bởi vì tôi không tin lối đấu tranh này sẽ dẫn đất nước đến nơi mà tôi mơ ước.
      Những người cầm súng để tự giải phóng mình thoát khỏi đàn áp bất công thấy rằng mình là chiến sĩ cho tự do. Họ có thể tiếp tục chiến đấu cho cả nước hay toàn dân tộc, nhân danh lòng ái quốc hay ý thức hệ hoặc cho một đoàn thể tôn giáo, sắc tộc hay chủng tộc đặc biệt nhân danh công bình và nhân quyền. Họ đang chiến đấu cho tự do.
      Khi không cần vũ khí thì các nhà đấu tranh dường như đã trở thành một tên chung để ám chỉ cho những người đang chiến đấu cho một chính nghĩa chính trị: những nhà đấu tranh cho dân quyền, những nhà đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, những nhà đấu tranh cho nhân quyền, những nhà đấu tranh cho dân chủ. Có phải chúng ta thuộc về hai hình thức phân loại chót không, vì chúng ta kiên trì cổ vũ cho nhân quyền và dân chủ? Khi nói rằng những người trong chúng ta tại Miến đang tham gia vào phong trào dân chủ là những người đấu tranh cho dân chủ, điều này có thể chính xác, nhưng đây là một lối mô tả quá hạn hẹp để phản ánh đầy đủ bản chất chủ yếu cuộc đấu tranh của chúng ta.
      Một học giả khi so sánh Indonesia dưới thời Tổng Thống Suharto với Miến Điện dưới thời quân phiệt đã viết rằng nói chung trường hợp quân đội Miến đã khuynh đảo chống lại chính trị dân sự. Trong chiều hướng quan sát đầy sáng suốt này, có thể suy luận rằng sứ mệnh của NLD không chỉ đơn thuần dấn thân cho các hoạt đông chính trị nhưng còn phục hồi toàn bộ cấu trúc xã hội chúng tôi để toàn thể người dân được bảo vệ có môi trường sống hợp pháp. 
      Chúng tôi không chỉ làm một việc đơn thuần thay chính phủ này bằng một chính phủ khác mà xem nó như công việc chủ yếu của một đảng đối kháng. Chúng tôi không chỉ đơn thuần khuấy động cho những sự thay đổi đặc biệt trong một hệ thống mà người ta có thể kỳ vọng nơi các nhà đấu tranh. Chúng tôi làm việc và sống cho chính nghiã mà nó là tổng hợp những khát vọng của chúng tôi cho dân tộc. Chung cục thì khát vọng này không hoàn toàn khác biệt với các khát vọng của các dân tộc khác.
      Dù có những nỗ lực quá ngặt nghèo của chế độ quân phiệt nhằm cách ly chúng tôi với thế giới, chúng tôi không hề cảm thấy cô độc trong cuộc chiến tranh của chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ cảm thấy cô độc vì cuộc đấu tranh chống chế độ (độc) tài và đàn áp lan rộng trong toàn thể thế giới con người, vượt qua mọi biên giới chính trị và văn hoá.
      Trong những năm tôi bị quản thúc tại nhà đài phát thanh là một sự nối kết của tôi với thế giới bên ngoài, tạo cho tôi dễ tiếp cận tới thế giới xa xăm cũng như tạo danh tiếng cho con đường tranh đấu của tôi. Chính nhờ có đài phát thanh mà tôi nghe được những hoạt động của NLD trong các vùng phụ cận của tôi, chính nhờ đài mà tôi biết được sự sụp đổ của bức tường Bá Linh, khối Liên Xô, những phong trào thay đổi hiến pháp tại Chí Lợi, những tiến bộ về dân chủ hoá tại Nam Hàn, sự hủy bỏ chế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Những cuốn sách mà tôi liên tục nhận từ gia đình tôi có cả những tác phẩm của Vaclav Havel, hồi ký của Zakharov, tiểu sử của Nelson và Winnie Mandela, sáng tác của Timony Garton Ash. Châu Âu, Nam Phi, Nam Mỹ, châu Á bất cứ nơi nào mà các dân tộc nào kêu gọi công lý và tự do, ở đó có thân hữu và đồng minh của chúng tôi.
      Khi tôi hết bị quản thúc tại nhà, tôi tận dụng mọi cơ hội để nói cho đồng bào tôi nghe về can đảm và chịu đựng của người dân đen Nam Phi, về sống trong chân lý, về quyền lực của những người cô thế, về những bài học mà chúng ta có thể học được từ những con người mà đấu tranh của họ là cuộc đời của họ và cuộc đời của họ là đấu tranh.
      Có lẽ bởi vì tôi thường nói về phong trào đấu tranh dân chủ của Đông Âu, tôi bắt đầu tự mô tả mình như là một nhà đối kháng. Thoạt đầu, Vaclav Havel dường như có vẻ không có thiện cảm với từ "đối kháng", vì nó do các nhà báo phương Tây áp đặt cho ông và những phong trào đấu tranh nhân quyền tại Czechoslovakia. Ông phải tiếp tục giải thích cặn kẽ những ý nghĩa đặt cho người đối kháng và phong trào đối kháng trong một bối cảnh của những gì đang xảy ra trên đất nước của ông. Ông kiên quyết rằng công việc chính của phong trào đối kháng là phục vụ chân lý - đó chính là phục vụ mục tiêu đích thực của cuộc đời - và những nỗ lực này phải phát triển để bảo vệ cá nhân và các quyền luật đinh về một cuộc đời tự do và chân thật. Đó chính là bảo vệ nhân quyền và đấu tranh để thấy được các quyền này được tôn trọng. 
      Việc này dường như mô tả đầy đủ những gì mà NLD đã làm trong những năm qua và chúng tôi rất hạnh phúc khi chấp nhận rằng chúng tôi là những nhà đối kháng. Việc nhà cầm quyền cứu xét quy chế chính thức của đảng chúng tôi là vấn đề nhỏ, bởi vỉ công việc chủ yếu của chúng tôi như là những nhà đối kháng và mục tiêu đối kháng của chúng tôi vẫn còn tồn tại qua thời gian.

      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Phê bình chỉ điểm

      Phê bình chỉ điểm

      Phạm Xuân Nguyen

      Đây là sự định danh một kiểu gọi là “phê bình văn học” của Nguyễn Văn Lưu đã được tôi nói lên tại diễn đàn của hai cuộc họp quan trọng. Cả hai cuộc tôi đều được mời dự chính thức và được phát biểu chính thức. Cuộc thứ nhất là hội thảo “Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học” do Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 10/4/2012 tại hội trường Ban tuyên giáo trung ương.
      Đến dự cuộc đó có các ông Trương Tấn Sang, Đinh Thế Huynh, và ngồi chủ trì là các ông Nguyễn Hồng Vinh, Đào Duy Quát, Hữu Thỉnh. Khi tôi phát biểu trong phiên thảo luận buổi chiều thì hai vị Chủ tịch nước và Trưởng ban Tuyên giáo trung ương đã không còn ngồi dự. Tôi đăng ký phát biểu và khi lên bục tôi đã mở đầu ý kiến của mình bằng cách nói ngay: bản tham luận “Kinh nghiệm phê bình qua một trường hợp văn học” của Nguyễn Văn Lưu đọc buổi sáng là lối phê bình chỉ điểm.
      Ông ta có quyền lấy trường hợp Nguyễn Huy Thiệp để khảo sát phê bình, nhưng cái lối tập hợp tư liệu các bài viết phê bình xoay quanh tác phẩm của nhà văn này rồi tổng hợp lại thành ra như một hệ thống có tổ chức phân công người định hướng tư tưởng, người viết bài... là có ý đồ xấu, là bóp méo sự thực đời sống văn học, là vu cáo những người phê bình có bài viết ủng hộ hiện tượng văn chương Nguyễn Huy Thiệp hành động như một “tổ chức”.
      Cuộc thứ hai là hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ ba do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc) trong các ngày 3-5/6/2013. Nguyễn Văn Lưu đọc bài viết phê phán bản luận văn “Vị trí kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) với những lời quy kết nặng nề.
      Khi thảo luận tôi cũng đã lên bục phát biểu to trước hội trường rằng kiểu phê bình như thế của Nguyễn Văn Lưu là phê bình chỉ điểm. Tôi cũng nhắc lại đây là lần thứ hai tôi dùng cụm từ này cho Nguyễn Văn Lưu và tôi nhấn mạnh không thể nào ở thời nay, ở nước ta hiện nay chấp nhận được một lối phê bình như thế. (Nói thêm một chi tiết là khi Nguyễn Văn Lưu đang đọc thì nhà văn HPP từ hội trường đi ra ngoài, ngang qua chỗ tôi ngồi anh nói nhỏ “sao bây giờ lại sinh ra những kẻ phê bình cảnh sát như vậy hả ông?”).
      Cả hai cuộc lần tôi phát biểu thẳng thắn, công khai tại hai hội thảo lớn báo chí khi tường thuật đều có lược trích ý kiến của tôi, nhưng không báo nào dẫn lại lời tôi nói “phê bình chỉ điểm” đối với Nguyễn Văn Lưu. Mới hay để đưa tin, tường thuật một sự kiện cho thật trung thực, khách quan trên báo chí chính thống cũng là khó. Tổng kết hội nghị Tam Đảo, ông Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam có nhắc tới bốn tiếng này của tôi nhưng là ở phần nói cái chưa được của hội nghị.

      Phê bình chỉ điểm là gì?

      Nó không phải bây giờ mới có, mà đã có trong suốt đời sống văn học, khi âm thầm, khi rộ lên, và thường là rộ lên thành đợt. Đó là kiểu phê bình cốt điểm mặt chỉ tên những người bị coi là sai trái, sai lầm, lệch lạc, phản động theo một cách đọc văn bản sáng tác và văn bản phê bình thiên về chính trị, quy về chính trị. Các văn bản sáng tác được viết theo cấu trúc nghệ thuật. Các văn bản phê bình được viết theo cấu trúc khoa học. Đọc chúng đúng nghĩa để nhận xét, đánh giá, phản biện là phải đọc theo quy tắc nội tại của văn bản, đọc có lý thuyết và phương pháp, đọc trong hệ thống liên kết văn bản, không thể hồ đồ suy diễn, diễn dịch theo lối áp đặt từ một động cơ, ý muốn ngoài văn học, ngoài khoa học. Phê bình chỉ điểm thường không đọc “vỡ chữ” (để mượn hai chữ này của nhà phê bình văn học và nghệ thuật Nguyễn Thị Minh Thái) các văn bản đó, hoặc có “vỡ chữ” được thì lại “bóp chữ”, và đọc theo lối áp ý (áp buộc ý riêng của mình) và ác ý. Theo dấu chỉ điểm này, người ta sẽ xử lý.
      Từ đó, phê bình chỉ điểm là kiểu phê bình dựng chuyện, lập hồ sơ giả, dựng hiện trường giả. Tác phẩm văn học bị lấy làm cái cớ để vu cho người viết những điều không có, ép cho họ những ý nghĩ, tư tưởng không thật, và thế là biến một cuốn sách, một tác giả thành ra một vụ việc mang tính hình sự, nặng hơn nữa thì coi đó là vụ án mà kẻ kết án chính là kẻ viết phê bình như thế. Những tác giả của kiểu phê bình này tự cho mình và coi mình có quyền nắm chân lý, ở vai quan tòa, và lớn tiếng dùng giọng văn buộc tội để nói về người và việc văn học. Theo dấu chỉ điểm này, người ta sẽ xử lý.
      Phê bình chỉ điểm do vậy là mang tính vụ việc nhất thời, là báo động giả, lấy sự gây ồn ào rối loạn làm mục đích chính, nhưng hậu quả nó gây ra thì nặng nề cho tâm lý xã hội, cho tinh thần văn giới, và thậm chí gây tác hại về nhân sinh. Theo dấu chỉ điểm, người ta sẽ xử lý. Bởi vì nó luôn được xuất hiện chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống và xuất hiện một cách ưu tiên, dành chỗ. Nó dễ khiến đám đông tin theo vì sự xuất hiện đó và vì cách viết kích động yếu tố chính trị trong hiện tượng văn học, cũng cả vì đám đông không được thông tin hai chiều, chỉ có chiều đi không có chiều lại.
      Tuy nhiên, phê bình chỉ điểm lại thường có hiệu ứng ngược: nó chết nhanh, còn cái bị nó phê thì sống dài. Cứ nhìn lại hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh thì rõ. Khi mới xuất hiện, tác phẩm của hai nhà văn này đã bị phê bình chỉ điểm kêu la ầm ĩ nào là phủ nhận chiến tranh cách mạng, nào là hạ bệ thần tượng, nào xuyên tạc lịch sử dân tộc, vân vân và vân vân, cứ như đọc sách của họ thì hỏng cả mọi sự. Cho đến bây giờ nhìn lại thì chính Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh là hai thành quả xuất sắc nhất của văn học Việt Nam đổi mới, là hai tác giả văn học Việt Nam được dịch nhiều nhất và đánh giá cao nhất ở nước ngoài, là hai gương mặt không thể thiếu khi giới thiệu văn học Việt Nam hiện đại.
      Điều này tôi nói là sự thực, còn hơn cả sự thực, đó là sự thật, dù ai khen chê thế nào mặc lòng, nhưng ai còn có lương năng văn học thì cũng đều thừa nhận thực tế đó. Còn lại bên họ là những người phê bình có mắt xanh tâm sáng biết “anh hùng đoán giữa trần ai mới già” nhận chân ra giá trị đích thực của hai người viết mới với những giá trị mới cần thiết cho văn học nước nhà thời kỳ đổi mới ngay từ khi họ vừa xuất hiện trên văn đàn. Trong khi đó, những bài viết kiểu phê bình chỉ điểm một thời vấy bẩn họ giờ còn ai đọc, mà có đọc cũng chỉ thấy chúng bất lực.
      Kinh nghiệm của tôi đối với kiểu phê bình chỉ điểm: hễ thấy có bài, mà nhất lại là nhiều bài đánh liên tục, dồn dập, tàn độc nhắm vào một tác giả, tác phẩm, công trình nào đó, thì hãy tìm ngay những cái bị đánh ấy đọc trực tiếp bằng con mắt, trí tuệ mình, đọc dưới góc độ văn hóa, văn học nghệ thuật và quên ngay những trò đánh đấm hội đồng chỉ điểm, phi văn học, phản nhân văn. Như ở trường hợp bản luận văn của Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) về nhóm Mở Miệng: hãy tìm đọc thơ của nhóm đó, hãy tìm đọc luận văn đó, thích hay không thích, đồng ý hay không đồng ý, mỗi người có quyền lựa chọn và phát biểu, nhưng hãy cứ đứng ở địa hạt văn học của thơ và khoa học của luận văn, đừng đẩy sang phía chính trị, tư tưởng, càng không được quy kết, quy chụp về tư tưởng và chính trị. Làm như thế là hại người.
      Mà đó chính là cách làm của phê bình chỉ điểm. Nó thế này: “Vì vậy chúng tôi cấp thời đề nghị phải lập tức đình chỉ việc giảng dạy của cô giáo Nhã Thuyên - dù là giảng dạy hợp đồng. Đồng thời hủy bỏ Luận văn, hủy bỏ học vị Thạc sĩ của tác giả Luận văn, xem xét lại tư cách của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Nguyễn Thị Bình và trách nhiệm của Hội đồng chấm Luận văn này.” (Nguyễn Văn Lưu). Đây chính là một cáo trạng khoác áo “phê bình văn học” truy bức tội danh “kích động sự phản kháng và chống đối” cho một bản luận văn cao học. Theo dấu chỉ điểm này, người ta sẽ xử lý.

      Hà Nội 7.2013

      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

      Những Hình Ảnh Hài Hước Chỉ Có Ở Việt Nam

      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Chi co o Viet Nam.avi

      Phần nhận xét hiển thị trên trang

      Phẩm chất quan trọng nhất là trung thực và nhân ái

      Nhà văn Dương Hướng trả lời PV.

      Nguyễn Nghiêm (thực hiện) - 16-07-2013 05:39:46 PM
      VanVN.Net - Nhà văn Dương Hướng tiếp bạn văn trong căn phòng nhỏ gắn bó mấy chục năm qua, nơi ông đã từng cặm cụi ngồi viết 6 tác phẩm theo trình tự thời gian: Gót Son (tập truyện ngắn – 1989); Bến không chồng (tiểu thuyết – 1990, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam); Trần gian đời người (tiểu thuyết – 1991); Người đàn bà trên bãi tắm (tập truyện ngắn); Tuyển chọn Dương Hướng  (1997); và gần nhất là Dưới chín tầng trời (tiểu thuyết – 2007). Bên cạnh một tủ sách văn học đồ sộ, “tài sản” quý giá của ông, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện thân tình, giản dị…
      Nhà văn Dương Hướng (trích ảnh Văn Công Hùng)
      * Thưa nhà văn Dương Hướng, mỗi tác phẩm ra đời đều là một đứa con tinh thần của nhà văn. Song chắc chắn không phải trong số đó đứa con nào cũng như đứa nào. Xin hỏi, trong số các tác phẩm của mình, ông thấy tâm đắc nhất với tác phẩm nào, và ý tưởng nào đã giúp ông viết nên những tác phẩm để đời ấy?
      Nhà văn Dương Hướng: Chả biết có để đời hay không, nhưng với tôi, tất cả các tác phẩm của mình đã viết ra tôi đều tâm đắc và yêu mến nó. Còn về ý tưởng nào sáng tác ư, nó muôn màu muôn vẻ, là anh cầm bút đôi khi chỉ tình cờ gặp những chi tiết rất nhỏ nhưng cũng có thể nảy ra được ý tưởng lớn. Nó cũng giống như anh đi câu vậy, may gặp được cá lớn. Với tôi, ngày còn quân ngũ, chiến tranh liên miên đã viết lách gì đâu. Ngày thống nhất đất nước trở về làng, tôi giật mình nhận ra trong những nụ cười hân hoan chiến thắng của bạn bè, người thân, họ tộc, cùng bà con làng xóm, tất thảy đều ẩn chứa điều gì đó mà chỉ những người đi xa về mới dễ nhận ra. Đó chính là nỗi cô đơn, sự chịu đựng khắc khổ bởi hậu quả của cuộc chiến tranh đã qua. Rồi không biết bao câu chuyện tôi được chứng kiến, thế là các nhân vật cứ dần hiện lên sống động trong tâm trí mình…
      * Bao giờ tên tuổi nhà văn cũng gắn liền với tác phẩm - Cụ thể với ông là tiểu thuyết “Bến không chồng”. Thậm chí có khi tên tác phẩm còn trở thành “biệt danh” của nhà văn, hoặc một danh từ chung khi muốn nói về một vấn đề gì đó, và “Bến không chồng” cũng vậy, đến nỗi lâu nay bạn đọc cả nước đã quen được đọc các bài viết về ông với nhiều “tít” nghe rất ấn tượng như “Người đàn ông ở Bến không chồng”, “gặp ông Bến không chồng ở Tây Nguyên”, “Bến không chồng đã có chồng?.”. “Bến không chồng  - bến đỗ văn chương”… Ông nghĩ thế nào về chuyện này?
      Nhà văn Dương Hướng: Mừng! Mừng và khoái vì các đồng nghiệp và độc giả đã đồng cảm, hiểu thấu những gì mình viết ra. Thú thật khi nhà văn viết ra những gì mình tâm đắc, chẳng thể tưởng tượng nổi sau này nó hay dở ra sao. Nhưng điều quan trọng phải thật sự tỉnh táo khi được độc giả tán dương. Đừng vội tưởng bở, có những điều phải suy xét cho thấu đáo nguồn cơn. Có nhiều những lời khen thật, khen vì quý mến, động viên. Nhưng cũng có cả lời khen giả, nếu không muốn nói là khen mỉa mai. Và có cả những lời khen ác nữa đấy. Họ khen mà thấy sợ. Rõ là họ khen mà hoá ra hại mình. Thế đấy! Hãi lắm.
      * Cụ thể là gì thưa ông?
      Nhà văn Dương Hướng: Là gì à, là mình nói A họ lại bảo B. Trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời, nhân vật của mình là nhân vật của tiểu thuyết, họ lại vận vào ông nọ ông kia ở ngoài đời. Thế là nguy chứ. Hãi lắm (cười). Họ khen mình là dũng cảm, là anh hùng. Là anh cầm bút mình chỉ tâm niệm là viết sao cho trung thực. Trung thực nhưng phải nhân ái, bao dung, có tình. Là nhà văn phải nhìn ra cái cao hơn lẽ thường ở cả những vấn đề bình thường. Đã cầm bút phải chấp nhận mọi rủi ro. Giống như người đi biển, phải chịu được cả giông bão. Trong văn học mình nói là nói tới bản chất (cái sâu xa) thì có những người chỉ nhìn vào cái vỏ bên ngoài trần trụi ...
      * Đúng là văn học là phải nói tới bản chất. Vậy theo ông, đó có phải là yếu tố quan trọng nhất trong sáng tác?
      Nhà văn Dương Hướng: Phẩm chất quan trọng nhất của nhà văn vẫn phải trung thực và nhân ái. Văn chương mà giả dối nịnh bợ và nhạt thì buồn và khó chịu lắm. Tôi không muốn dùng lại những từ to tát như trong các bài viết giới thiệu quảng cáo sách, hay các luận văn của các học viên cao học đã phân tích về những tác phẩm của tôi, nào là tư tưởng xuyên suốt thời đại mang tính nhân văn cao cả, nào là phản anh sâu sắc những vấn đề cốt lõi của cuộc sống…
      * Nhưng thực sự với các nhân vật trong ba cuốn tiểu thuyết của ông đều là những nhân vật tốt. Đọc nó thấy ấm áp vô cùng. Và đằng sau đó là một cái nhìn sâu sắc, sinh động của nhà văn về đề tài nông thôn...
      Nhà văn Dương Hướng: Đúng vậy! Đừng lầm lẫn, không chỉ cái xấu mới có xung đột, mà giữa người tốt với nhau vẫn có xung đột. Thậm chí xung đột dữ dội. Sự xung đột của họ là do hạn chế về nhận thức, hoặc nhận thức khác biệt nhau do yếu tố khách quan, chứ bản chất con người họ rất đáng yêu thương, trân trọng. Thú thực tất cả các nhân vật trong các tác phẩm của tôi đều là hình bóng của những người thân trong gia tộc, làng xóm, bạn bè tôi. Đến cái tên làng như làng Đông trong Bến không chồng, làng Đoài trong Dưới chín tầng trời, làng Nguyệt Hạ trong Trần gian đời người cũng vẫn chỉ là bóng dáng của cái xóm Đông, xóm Đoài của thôn An Lệnh, xã Thuỵ Liên quê tôi. Còn nói trong những tác phẩm đó có một cái nhìn sâu sắc, sinh động về đề tài nông thôn thì cũng đúng. Mình con nhà nông chính hiệu mà. Mình thuộc mảng nào thì viết về mảng đó. Thực chất tất cả các tác phẩm của Dương Hướng đều thiên về làng quê, về chiến tranh và người lính. Chiến tranh và người lính, vẫn là những chàng trai từ làng quê khoác ba lô ra mặt trận. Họ ra đi để lại vợ con cha mẹ người yêu ở lại hậu phương. Vì thế, làng quê, chiến tranh, và người lính là ba mối quan hệ gắn bó máu thịt. Nỗi nhớ nhung, sự phản bội, lòng căm thù và tình yêu thương cũng từ đó. Chính vì vậy mà cả ba tiểu thuyết của tôi cũng đều cùng mang chủ đề, ấy - chủ đề nông thôn, chiến tranh và người lính. Và nếu trời còn cho tôi sức khoẻ, thì làng An Lệnh quê tôi có thể viết hết đời mình vẫn không hết chuyện. Nhưng ai đã đọc cả ba cuốn tiểu thuyết của tôi đều nhận ra khung cảnh, tập tục quen thuộc của cái làng An Lệnh quê tôi, nhưng chủ đề tư tưởng của mỗi tác phẩm đều khác nhau.Bến không chồng nói tới một thế hệ phụ nữ không chồng, hoặc có chồng cũng như không bởi đàn ông ra mặt trận hết. Trần gian đời người thì khai thác sâu về tập tục văn hoá làng xã bị phá vỡ tới tận gốc rễ. Còn Dưới chín tầng trời thì mở rộng hơn cả về thời gian và không gian, nó bao trùm cả một giai đoạn của lịch sử trong suốt nửa thế kỷ qua....
      * Trong ba cuốn tiểu thuyết, có lẽ cuốn Dưới chín tầng trời đã được ông đặt nhiều tâm huyết trăn trở nhất. Ông có thể nói sâu hơn về cuốn tiểu thuyết này để bạn đọc rõ, bởi tác phẩm này vừa được trao giải A giải Văn Nghệ Hạ Long 2013...
      Nhà văn Dương Hướng: Đã có nhiều bài viết về tiểu thuyết này nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt đã có tới chục cái luận văn tốt nghiệp của sinh viên các trường đại học, học viên cao học trong cả nước phân tích rất bài bản về tác phẩm Dưới chín tầng trời. Nhưng với tôi, hoàn thành để được tác phẩm này tôi đã phải đầu tư tương đối công phu trong suốt thời gian dài 15 năm. Quả thực với tiểu thuyết này tôi đã đi sâu vào những sự kiện quan trọng đã diễn ra trong suốt nửa thế kỷ. Cụ thể là 5 bước ngoặt lớn của đất nước để làm khung sườn cho tiểu thuyết. Bởi lẽ 5 bước ngoặt đó đã tác động sâu sắc, tác động trực tiếp tới từng số phận của các nhân vật trong tác phẩm. Có lúc cao hứng bốc đồng lên (cười), tôi đã nói với bạn bè đồng nghiệp câu nói chả hiểu mình nghe được ở đâu là: Nhà tiểu thuyết phải như một vị tướng cầm quân ra trận. Là một tướng giỏi khi tung quân ra phải biết thu quân về. Nều để quân lính thất lạc hay ngoẻo hết thì là tướng tồi...
      Trong Dưới chín tầng trời, thực lòng tôi mong muốn viết được cái gì đó phản ảnh thật trung thực đời sống xã hội Việt Nam ta trong gần nửa thế kỷ qua. Tôi viết bằng cái tâm của mình, tôi tin rằng bất kể ai đọc tác phẩm này đều nhận thấy cái tình người là cao quý và lớn lao nhất trong tác phẩm. Tư tưởng tốt của tác phẩm chính là ở đó, ở cái tình con người. Đọc xong tác phẩm, thiết nghĩ không ai nỡ đối xử ác với ai, ai cũng mong mình sống sao cho tốt đẹp hơn. Điều đó chẳng phải là tiêu chí cốt tử muôn đời của văn học đấy sao? Để nói được điều đó, tất nhiên các nhân vật trong tác phẩm Dưới chín tầng trời họ đã trải qua tất cả những bước thăng trầm của lịch sử. Kể cả nói tới những hạn chế, những lỗi lầm của lịch sử, tôi cũng phải hướng tới cái thiện, đó cũng là điểm sáng, là ý tưởng tốt đẹp của tác phẩm. Điều này tôi luôn tâm niệm và bảo đảm bằng chính lương tâm và tư cách của người cầm bút. Bởi tất cả những gì tôi muốn nói, đều đã được trải nghiệm qua cuộc sống của tôi, của đồng đội tôi trên chiến trường, cũng như của những người dân trong làng xóm quê hương tôi. Tôi muốn nói tới một điều, lẽ ra văn học nước nhà phải rộng mở từ lâu. Tôi tin rằng tác phẩm này đã giải toả được mọi vướng mắc, mọi hạn chế của lịch sử mà trong mọi tầng lớp xã hội ta ai cũng biết, cũng hiều. Là người cầm bút, tôi nghĩ cần phải có tấm lòng, cần có sự dự cảm và trách nhiệm trước nhân dân, trước thời đại mình đang sống để độc giả vững tin trên tinh thần đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới ở thế kỷ này - thế kỷ văn minh tiến bộ của đất nước Việt Nam nói riêng và của toàn nhân loại nói chung.
      Tuy nhiên trong một tác phẩm văn học, mỗi người đọc có những cảm nhận riêng, những quan điểm đánh giá khác nhau, đó cũng là điều bình thường...
      * Trải qua khá nhiều năm, tới nay, các tác phẩm của ông vẫn được bạn đọc yêu quý, nhất là tiểu thuyết Bến không chồng đã tái bản đến 11 lần. Không chỉ có thế, vừa qua bộ phim truyền hình Bến không chồng khi trình chiếu lại cũng được dư luận chú ý. Là tác giả tiểu thuyết Bến không chồng, ông thấy giữa tác phẩm văn học và điện ảnh có gì khác biệt?
      Nhà văn Dương Hướng: Hai thể loại đương nhiên là khác nhau về cách thể hiện, phim thể hiện bằng hình ảnh, tiểu thuyết thể hiện bằng ngôn từ. Cái cốt lõi là ở đạo diễn và nhà văn gặp nhau ở tầm tư tưởng. Cả phim và tiểu thuyết đã đạt được vấn đề đó. Bữa trước gặp đạo diễn Lưu trọng Ninh, ông có đề xuất với tôi, nếu được, ông sẽ cho chuyển thể thành phim (100 tập) cả hai cuốn tiểu thuyết Dưới chín tầng trời và Bến không chồng. Tôi băn khoăn nói với đạo diễn Lưu Trong Ninh là để tôi sẽ thương lượng với tác giả biên kịch Huệ Ninh vì tôi đã ký hợp đồng từ năm 2010 với Huệ Ninh chuyển thể Dưới chín tầng trời rồi. Nhưng vì nhiều lý do, đến nay Huệ Ninh vẫn chưa thực hiện được.
        * Đã hơn 5 năm từ khi Dưới chín tầng trời, cuốn tiểu thuyết gần nhất của ông ra đời, việc sáng tác của ông thế nào?
      Nhà văn Dương Hướng: Đã hơn 5 năm rồi, tôi dự định viết một cuốn tiểu thuyết tạm đặt tên là Góc khuất, nhưng mới chỉ là dự định. Tôi vẫn còn nhiều điều phải suy nghĩ và phải lựa chọn một cách kỹ càng hơn nữa. Nhưng rồi mọi chuyện cứ phải gác lại bởi lý do sức khoẻ. Trong ngực bây giờ phải đặt một cái sten rồi, chả biết khi nào mới viết lại được. Đề tài của Góc khuất, cũng là về chiến tranh, về những người lính đang sống trong thời hậu chiến. Nhưng khác ở chỗ là thân phận con người còn có những góc khuất không thể phơi bày. ở đó có những con người phải chịu đựng cả hai luồng tư tưởng, họ cứ lơ lửng giữa giời... Đó là bi kịch của chiến tranh, là góc khuất trong nhiều thân phận của con người mà chúng ta cần thấu hiểu.
      * Thưa nhà văn, với kinh nghiệm của một nhà văn đã thành đạt, ông có suy nghĩ gì về lớp những người viết trẻ đang kể thừa sự nghiệp văn chương của thế hệ đi trước? Nhà văn có nhắn gửi và tâm tình gì đối với họ?
      Nhà văn Dương Hướng: Lớp trẻ ngày nay được học, được đào tạo bài bản hơn lớp chúng tôi nhiều. Họ viết cũng hiện đại hơn, nhiều tác giả trẻ viết cũng nể lắm. Tôi đã biên tập một tập truyện ngắn cho mười tác giả trẻ vừa xong, in ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn, có nhiều tác giả viết rất khá. Với các bạn trẻ, điều cần quan tâm hơn chính là ở sự trải nghiệm. Trong sáng tác cần ở sự trải nghiệm hơn là sự học và đào tạo.
      * Xin cảm ơn nhà văn Dương Hướng về cuộc trò chuyện này.



      Phần nhận xét hiển thị trên trang